Phát triển và cống hiến là nhu cầu tự nhiên của con người để được toại nguyện
Hai người Việt trò chuyện bên bàn trong một quán cà phê ở Copenhagen, người lớn tuổi hơn giải thích trên cuốn sổ, người trẻ ghi chép

Chúng tôi tình cờ xem được một video ngắn trên YouTube, “Two Most Important Things In Life” (Hai điều quan trọng nhất trong đời), do John Edmonds Kozma, người dẫn chương trình Unimpressed Podcast, trình bày. Video rất ngắn, nói về sáu nhu cầu của con người, và điều giữ chúng tôi xem lại lần nữa là hai nhu cầu cuối: phát triển và cống hiến. Tình cờ, mà cũng không hẳn là tình cờ, đó chính là hai chữ cuối trong tôn chỉ của AVIDE: Kết nối, Tương trợ, Phát triển, Cống hiến.

Ngay từ ý tưởng thành lập, chúng tôi đã xác định Hội phải đem lại lợi ích thực tế cho hội viên và cho cộng đồng. Đã là chuyên gia và trí thức thì cần đóng góp cho cộng đồng, và cần tương trợ nhau để cùng phát triển. Rồi có một điều chỉ nhận ra khi bắt tay vào làm: chính nhờ những nỗ lực giúp nhau và giúp cộng đồng mà mỗi người trong chúng ta lớn lên và hoàn thiện hơn, cả về kỹ năng lẫn tâm trí. Cho đi hoá ra là cách chắc nhất để nhận lại. Vì thế, nghe những điều ấy được nói ra gọn gàng trong một video, chúng tôi thấy một sự đồng cảm sâu sắc, và muốn chia sẻ với hội viên.

Ý tưởng trong video không phải của Kozma. Đó là mô hình “sáu nhu cầu của con người” (six human needs) mà Tony Robbins đưa ra trong bài nói tại hội nghị TED năm 2006, “Why we do what we do” (Vì sao ta làm những gì ta làm), một trong những bài nói được xem nhiều nhất của TED. Bài viết này tìm lại nguồn gốc ấy, tóm lược mô hình, nói rõ giới hạn của nó, rồi soi vào đời sống của người Việt đang học tập và làm việc ở Đan Mạch. Ý chính nằm ở một bước chuyển: phát triển và cống hiến là nhu cầu tự nhiên của con người, và con đường từ sinh tồn sang phát triển bắt đầu ở khoảnh khắc ta ngừng đổ lỗi cho hoàn cảnh và tự hỏi mọi việc đang xảy ra dạy mình điều gì.

Video gốc: John Edmonds Kozma, Unimpressed Podcast, “Two Most Important Things In Life” (YouTube, 15/9/2026).

Bốn nhu cầu giữ cho ta ổn định

Theo Robbins, ai cũng có sáu nhu cầu cơ bản, và cách mỗi người xếp thứ tự ưu tiên cho sáu nhu cầu ấy chi phối gần như mọi lựa chọn trong đời. Bốn nhu cầu đầu ông gọi là nhu cầu của nhân cách (needs of the personality):

  • Sự chắc chắn (certainty): được an toàn, ổn định, biết trước điều gì sẽ đến. Một công việc đều lương, một giấy phép cư trú dài hạn, một căn hộ đứng tên mình.
  • Sự đa dạng (variety): được thay đổi, bất ngờ, thử thách. Quá nhiều chắc chắn thì hoá nhàm chán, nên con người cần cả hai, dù hai thứ này kéo về hai phía.
  • Ý nghĩa cá nhân (significance): thấy mình quan trọng, được công nhận, được là người đặc biệt. Nó có thể đến từ chức danh, từ thành tích, hay chỉ từ việc được người khác lắng nghe.
  • Kết nối và yêu thương (love/connection): thuộc về một ai đó, một nhóm nào đó.

Điểm mấu chốt của Robbins nằm ở chỗ này: ai cũng tìm cách thoả mãn bốn nhu cầu ấy, bằng cách lành mạnh hay không lành mạnh. Có người tìm sự chắc chắn bằng cách học một nghề vững, có người tìm nó bằng cách né tránh mọi rủi ro. Có người tìm ý nghĩa cá nhân bằng cách làm việc giỏi, có người tìm nó bằng cách hạ thấp người khác. Nhu cầu là chung. Cách đáp ứng mới khác nhau, và chính cách đó định hình chất lượng cuộc sống.

Hai nhu cầu làm cho cuộc sống có nghĩa

Trong video, Kozma có một câu đáng nhớ: bốn nhu cầu đầu “giữ cho bạn sống sót, nhưng sự thoải mái là nơi những giấc mơ đến để chết”. Người ta có thể có đủ cả bốn mà vẫn thấy trống rỗng, vì tồn tại không đồng nghĩa với sống. Robbins gọi hai nhu cầu còn lại là nhu cầu của tinh thần (needs of the spirit), và cho rằng cảm giác viên mãn chỉ đến từ đây:

  • Phát triển (growth): nhu cầu được lớn lên, về hiểu biết, năng lực, tâm hồn. Robbins hay nói rằng mọi thứ trong đời sống hoặc đang lớn lên hoặc đang chết đi, không có trạng thái đứng yên.
  • Cống hiến (contribution): nhu cầu cho đi, làm điều gì đó vượt ra ngoài bản thân mình. Theo Robbins, đây là nhu cầu sâu nhất, và là nơi cảm giác có ý nghĩa thực sự bắt đầu. Chữ cống hiến nghe lớn, nhưng Robbins không đòi hỏi một sự nghiệp hay một sự hy sinh. Điều quyết định là hướng cho đi, vượt khỏi bản thân, chứ không phải quy mô. Cống hiến bắt đầu từ những đóng góp nhỏ.

Kozma tóm hai nhu cầu này bằng một câu gọn: “Lớn lên vượt khỏi quá khứ của mình, cống hiến vượt khỏi bản thân mình. Đó không chỉ là thành công, đó là mục đích sống.” Ông cũng cảnh báo: phát triển mà không cho đi thì chỉ là cái tôi được nuôi lớn.

Bước chuyển từ sinh tồn sang phát triển: ngừng đổ lỗi cho hoàn cảnh

Phần đáng giá nhất của video không phải là danh sách sáu nhu cầu, mà là câu trả lời cho câu hỏi: làm sao đi từ bốn nhu cầu đầu sang hai nhu cầu cuối? Bước chuyển ấy không nằm ở việc có thêm tiền, thêm bằng cấp hay thêm thời gian. Nó nằm ở cách nhìn.

Chừng nào ta còn đổ lỗi cho hoàn cảnh, ta còn ở chế độ sinh tồn. Người sếp không hiểu mình, thị trường lao động khó, tiếng Đan Mạch quá lạ, mình đến muộn, mình đến sai thời điểm: mỗi lời giải thích ấy có thể đúng một phần, nhưng chúng có chung một tác dụng là dồn hết năng lượng vào việc bảo vệ bốn nhu cầu đầu và không để lại gì cho việc lớn lên. Khi hoàn cảnh là thủ phạm, ta là nạn nhân, và nạn nhân thì không có việc gì để làm ngoài chờ hoàn cảnh đổi.

Kozma diễn tả bước chuyển bằng hai câu hỏi. Sự phát triển bắt đầu ở khoảnh khắc ta ngừng hỏi “tại sao chuyện này xảy ra với tôi” và bắt đầu hỏi “chuyện này đang dạy tôi điều gì”. Câu hỏi thứ nhất nhìn ra ngoài và tìm người để trách. Câu hỏi thứ hai nhìn lại và tìm bài để học. Mỗi thất bại, mỗi giai đoạn tối tăm, theo ông, là một bài trong chương trình học, không phải một hình phạt. “Bạn không bị trừng phạt, bạn đang được chuẩn bị.”

Đặt vào đời sống hằng ngày, câu hỏi thứ hai nghe như thế này. Hồ sơ xin việc bị từ chối lần thứ mười: thay vì kết luận thị trường không cần mình, hỏi xem mười lần ấy dạy mình điều gì về cách nhà tuyển dụng Đan Mạch đọc một bản CV. Buổi họp mà không ai theo kịp ý mình: thay vì trách đồng nghiệp không chịu nghe, hỏi xem buổi họp dạy mình điều gì về cách trình bày trong một văn hoá làm việc phẳng. Một năm đầu cô đơn: thay vì trách xứ lạnh, hỏi xem năm ấy dạy mình điều gì về việc chủ động đi tìm người.

Cách nhìn này không mới. Nó gần với điều Viktor Frankl viết trong “Đi tìm lẽ sống” (Man’s Search for Meaning, 1946), rằng con người có thể chịu đựng hầu hết mọi hoàn cảnh nếu tìm được ý nghĩa trong đó. Nhưng nói lại trong hai câu ngắn, ở dạng một câu hỏi thay cho câu hỏi khác, làm cho nó dễ dùng trong một ngày thường.

Đây chính là bản lề của cả mô hình. Câu hỏi “chuyện này dạy tôi điều gì” mở cửa cho nhu cầu thứ năm, vì người đang học thì đang lớn lên. Và người đã học được một bài từ chính khó khăn của mình thì tự nhiên muốn truyền lại cho người đến sau, tức là nhu cầu thứ sáu. Không ai phải ép mình cống hiến. Cống hiến đến như hệ quả của việc đã lớn lên, bắt đầu từ một đóng góp nhỏ cho người bên cạnh.

Mô hình này đúng đến đâu?

Cần nói rõ: mô hình sáu nhu cầu là một khung tư duy dùng trong huấn luyện và phát triển cá nhân, không phải một lý thuyết tâm lý học đã qua kiểm định bằng nghiên cứu độc lập. Nếu muốn một nền tảng có nghiên cứu hậu thuẫn, có thể đọc thêm hai khung gần gũi: tháp nhu cầu của Abraham Maslow (1943), và thuyết tự quyết (self-determination theory) của Edward Deci và Richard Ryan, vốn chỉ ra ba nhu cầu tâm lý cốt lõi là tự chủ, năng lực và gắn kết. Mô hình của Robbins trùng với cả hai ở nhiều điểm, nhưng cách chia “bốn nhu cầu nhân cách, hai nhu cầu tinh thần” là cách xếp của riêng ông.

Video cũng có một câu về “trường lượng tử mở ra” khi ta cho đi. Đó là ngôn ngữ của người dẫn chương trình, không có cơ sở khoa học, và không cần thiết để nắm được ý chính. Điều đáng giữ lại đơn giản hơn nhiều: cho đi làm cho ta thấy đời mình có nghĩa, và điều này thì hầu như ai từng làm việc thiện nguyện đều đã tự trải nghiệm.

Soi vào đời sống người Việt xa quê

Người Việt sang Đan Mạch học tập và làm việc thường dành nhiều năm đầu cho bốn nhu cầu đầu tiên, và điều đó hoàn toàn hợp lý. Giấy phép cư trú, việc làm, chỗ ở, tiếng Đan Mạch, một vòng bạn bè: đó là sự chắc chắn và sự kết nối, và không ai bỏ qua được. Sự đa dạng thì cuộc sống ở một đất nước mới tự nó mang đến. Ý nghĩa cá nhân đến khi ta được công nhận trong công việc.

Câu hỏi của video dành cho những ai đã đi qua giai đoạn ấy: khi mọi thứ đã ổn, ta làm gì tiếp? Nhiều người trong chúng ta biết cảm giác “đủ mà vẫn thiếu” ở năm thứ năm, thứ mười nơi xứ người. Mô hình của Robbins gọi tên cảm giác đó: bốn nhu cầu đầu đã được đáp ứng, hai nhu cầu cuối thì chưa.

Quay lại bốn chữ trong phương châm của Hội. Hai chữ cuối, phát triển và cống hiến, trùng đúng với hai nhu cầu cuối trong mô hình này, và như đã nói ở đầu bài, điều đó không phải ngẫu nhiên. Một hội chuyên gia tồn tại chính là để cho thành viên một nơi để lớn lên (qua webinar, cố vấn nghề nghiệp, các dự án chung) và một nơi để cho đi (cố vấn cho người đến sau, chia sẻ kinh nghiệm, góp sức cho các hoạt động hướng về Việt Nam). Người mới đến tìm ở Hội sự kết nối và tương trợ. Người đã ổn định tìm ở Hội chỗ để phát triển và cống hiến. Cùng một tổ chức, hai nhóm nhu cầu.

Một câu hỏi để mang theo

Video kết bằng một câu hỏi, và chúng tôi xin để nguyên câu hỏi ấy: bạn đang thay đổi một điều gì để dành chỗ cho hai nhu cầu cuối? Có thể bắt đầu từ chỗ nhỏ nhất, là lần tới khi một việc không như ý, thử đổi câu hỏi trước khi đổ lỗi cho hoàn cảnh. Rồi mới đến những việc cụ thể hơn. Nhận hướng dẫn một sinh viên mới sang. Chia sẻ một kinh nghiệm xin việc trong nhóm. Dành một buổi tối mỗi tháng cho một việc mình chưa biết làm. Theo cách nói của Robbins, đó là lúc ta chuyển từ tồn tại sang sống.

Nguồn tham khảo:

  • Video gốc: John Edmonds Kozma, Unimpressed Podcast, “Two Most Important Things In Life”, YouTube Shorts, 15/9/2026: youtube.com/shorts/WUPwFtT5LiM
  • Bài nói gốc của mô hình: Tony Robbins, “Why we do what we do”, TED2006, Monterey, California, tháng 2/2006: ted.com/talks/tony_robbins_why_we_do_what_we_do
  • Robbins trình bày lại mô hình trong podcast của ông: tonyrobbins.com/podcasts/why-we-do-what-we-do
  • Khung có nghiên cứu hậu thuẫn để đọc thêm: Maslow, A. H. (1943), “A theory of human motivation”, Psychological Review, 50(4); Deci, E. L. và Ryan, R. M. (2000), “Self-determination theory and the facilitation of intrinsic motivation, social development, and well-being”, American Psychologist, 55(1).
Chia sẻ: Facebook LinkedIn